Tổng hợp những câu chuyện hay nhất

Thích Khách Vô Danh

Thích Khách Vô Danh

Tác giả: Dạ Tuyết Miêu Miêu

Ngày cập nhật: 03:48 22/12/2015

Lượt xem: 1342028

Đang đọc: 11 độc giả

Bình chọn: 9.00/10/2028 lượt.

làm chủ sửa lại danh phận cho giường hắn, mà hắn lại mặc kệ không rên một tiếng. Chính mình muốn toan tính miễn tử kim bài (ở đây chỉ Bích Lưu châu) của hắn, hắn cũng một câu đáp ứng ngay. Không khỏi hồ nghi nhìn hắn.
"Chỉ là Hoan cũng có một yêu cầu quá đáng, mong cô nương đáp ứng. Cô nương khéo truy nguyên (truy tìm căn nguyên, nguồn gốc), có thể chỉ điểm một chút hay không."
"Đó là đương nhiên." Mạc Hi biết nghe lời phải. Nhưng tổng cảm thấy tính toán của hắn không chỉ có thế. Nhưng vô luận như thế nào, việc đả thông gân mạch nhất định phải làm. Chỉ có thể gặp chiêu phá chiêu.
Đường Hoan từ trong lòng lấy ra một cái hà bao hơi cũ, nhưng hoa lan màu xanh ngọc như ý thêu trên đó lại cực tinh xảo, đường viền bạc đã có chút sờn, xác định là vật mang theo bên người nhiều năm. Đổ ra một viên châu cực lớn ánh sáng lấp lánh đủ màu đưa cho Mạc Hi.
Kinh Thư là một bộ phận trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ. Kinh Thư bao gồm Ngu thư (ghi chép về đời Nghiêu Thuấn), Hạ thư (ghi chép về nhà Hạ), Thương thư (ghi chép về nhà Thương) và Chu thư (ghi chép về nhà Chu).
Chu Dịch thực ra được coi là một tác phẩm cấu thành từ Kinh Dịch và Thập Dực. Kinh Dịch là bộ sách kinh điển rất lâu đời của người Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa, nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh.v.v...
Lễ Ký hay còn gọi là Kinh Lễ là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Toàn bộ Kinh Lễ được viết bằng tản văn, không chỉ miêu tả chế độ lễ nghi đương thời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài ra có giá trị về văn học rất lớn.
Xuân Thu cũng được gọi là Lân Kinh là bộ biên niên nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 TCN tới năm 481 TCN. Đây là văn bản lịch sử Trung Quốc sớm nhất còn lại và được ghi chép theo các quy tắc sử biên niên. Văn bản cực kỳ súc tích, và nếu chúng ta bỏ toàn bộ những lời phê bình, nội dung sẽ dài khoảng 16.000 nghìn từ, vì thế chỉ có thể hiểu được nghĩa của nó với sự hỗ trợ của những lời bình của các học giả thời xưa, đặc biệt theo truyền thống Tả Truyện. Bởi vì theo truyền thống, cuốn sách này được coi là do Khổng Tử biên soạn (theo giả thuyết của Mạnh Tử), nó được đưa vào trong bộ Ngũ Kinh của văn học Trung Quốc. Tuy nhiên, rất ít học giả hiện đại tin rằng Khổng Tử có nhiều ảnh hưởng trên quá trình trước tác văn bản này mà nó là tác phẩm của nhiều nhà biên niên sử người nước Lỗ.
Phương thức châm cứu của Tiết Đồng là châm kim phối hợp cùng dược cứu. Thủ pháp có chút tương tự với "Hỏa châm thứ tú" của dân gian. "Hỏa châm thứ tú" tức là dùng lửa làm nóng que hàn, vận dụng các thủ pháp câu, lặc, điểm, nhiễm, sát, bạch miêu (phác họa, khắc, chấm phá, nhuộm, cọ đánh, vẽ đơn giản bằng mực, đại khái là thế T^T) vân vân của tranh Trung Quốc, trên trúc mộc, giấy Tuyên, tơ lụa các loại vật liệu tạo ra dấu vết như vẽ tranh, nắm chắc độ lửa, cùng độ mạnh yếu, chú ý "ý tại bút tiên, lạc bút thành hình" (đưa ý nghĩ vào bút, đặt bút thành hình).
Mà thời điểm Tiết Đồng sử dụng cương châm, thủ pháp thành thạo lưu loát, tác phong tao nhã cẩn thận, như vẩy mực vẽ tranh, dáng vẻ phóng túng, không chút dung tục.
Bên này Tiết Đồng dáng vẻ tiêu sái, bên kia Mạc Hi lại khổ không chịu nổi. Dù là nàng xưa nay ẩn nhẫn tự kiềm chế, đau đớn như thiêu như đốt kéo dài không dứt cũng khiến nàng âm thầm nghiến răng oán thầm không thôi, đây thật đúng là đòi mạng, cả người bị ghim thành con nhím không nói, mỗi ngày châm một canh giờ không tính, còn phải ngâm nước thuốc chừng hai canh giờ. Không khỏi trong khổ tìm vui, âm thầm tự giễu: Thời Tam Quốc có Hoa Đà vì Quan Vũ cạo xương trị độc**, hôm nay có Tiết Đồng vì Mạc Hi châm cứu thông gân. Quả nhiên mọi việc đều có cái giá của nó, vì trở thành cao thủ, chỉ có thể liều mạng.
** Thời Tam Quốc có Hoa Đà vì Quan Vũ cạo xương trị độc (Điển tích từ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung): Quan Vũ đánh Phàn Thành, bị trúng tên độc của Tào Nhân. Thuốc độc ngấm vào tận xương nguy hiểm tính mạng. Danh y Hoa Đà đến chữa, đề nghị gây mê ông để khỏi nhìn cảnh Hoa Đà khoét thịt cạo độc trong xương. Nhưng Quan Vũ không đồng ý, vẫn thản nhiên ngồi đánh cờ với Mã Lương trong lúc Hoa Đà chữa tay.
Vì Tiết Đồng không biết võ công, lúc châm cứu cần người biết võ ở bên, cho nên Đường Hoan luôn ở cạnh quan sát. Hắn từng


Insane