Tác giả: Phỉ Ngã Tư Tồn
Ngày cập nhật: 03:23 22/12/2015
Lượt xem: 1341715
Đang đọc: 11 độc giả
Bình chọn: 9.00/10/1715 lượt.
cư dân ở phía đông kinh thành đều nghèo, dân tị nạn chạy cả vào trong kinh thành nương nhờ nơi bạn bè thân thích. Một gian chòi dựng tạm lùn tịt, thường thường rác rưởi cặn bã giăng đầy trên đất, nước mưa tuôn xuống, ô uế chảy ra khắp mọi ngóc ngách.
Tuy là ăn nước giếng, song khí hậu Tây Trường kinh khô khan, đào giếng phải hơn mười trượng, thậm chí còn phải sâu hơn nữa mới có nước ngọt, nhà nghèo thì đào không nổi giếng sâu, bèn đào một miệng giếng nông rồi gạn mà ăn, mấy ngày mưa liên miên, nước giếng đã sớm ô nhiễm, vì thế một nhà bệnh, lập tức lây sang cả mười nhà. Cứ như vậy, dịch bệnh ruốt cuộc từ từ mà lan ra, thậm chí còn có vài hộ gia đình đồng loạt mà chết bệnh ngay giữa đường. Tây Trường kinh bấy giờ chẳng khác nào cái lồng ôn dịch đáng sợ, mọi người ai nấy đều bất an không thôi.
Những ngày này mưa như trút nước, Dự Thân Vương ở trong phủ nghe tiếng mưa rào rào, không khỏi thở dài. Đứng dậy tiện tay đẩy cửa sổ nhìn ra, chỉ thấy trời tối đen như mực, tựa như trên trời đã bị chọc một lỗ thủng, mưa cứ thế mà ào ào dội thẳng xuống.
Trong phòng lớn tuy được lát gạch xanh, nhưng đã phủ một tầng hơi nước mỏng, mưa kia rơi xuống mặt đất, bọt nước nảy lên, trông chẳng khác nào trong nồi nước sôi.
Chàng lo lắng cho đại cuộc, trong lòng cũng như đang tuôn mưa, cảm thấy không thể nào yên ổn. Hoàng Đế mấy ngày trước đã muốn trở về, bị chàng một mực ngăn cản lại . . . Bởi vì trong thành ôn dịch tràn lan, nghĩ Hoàng Đế vẫn tốt nhất là ở lai Thượng Uyển an toàn hơn. Mà trong thành liên lạc dường như đã bị cắt đứt hoàn toàn, bách tính ngay cả cưới hỏi hay tang lễ đều bị cấm chỉ, ai cũng không được qua lại với nhau, mỗi nhà đều phải khép chặt cửa, trên cửa còn treo một túi cỏ thơm, gọi là “Phòng dịch”.
Trong lúc đó, quan lại đồng liêu, nếu không có công việc quan trọng cũng không được đi lui đi tới, nghị triều tạm thời hoãn lại. Hoàng Đế vốn không ở trong kinh, cho nên quần thần mỗi ngày đều hội thảo trong phủ Dự Thân Vương, cùng bàn luận những chính sự quan trọng. Trình Phổ đã cao tuổi, lo lắng cũng không được nhiều nữa, nhưng phía nam cứu nạn, phía bắc động binh, việc to việc nhỏ, tất tần tật Dự Thân Vương cũng đều phải hỏi han.
Chuyện này cũng thôi không bàn nữa, quan trọng nhất lúc bấy giờ chính là tiền, bạc trong ngân quỹ quốc gia cứ liên tục chảy ra như nước, vậy mà vẫn không duy trì được cục diện.
“Không bột đố gột nên hồ.”
Thị lang bộ Hộ là Lý Tự thở dài.
“Vương gia cũng biết, sớm đã là thu không đủ chi, năm ngoái tuy có thu nhập được một khoản lớn, nhưng chi phí cho công trình thủy lợi cùng quân đội đều không ít, còn có xây lăng tẩm cùng việc đào mương ở Định châu, bốn cái thì đã khốn đốn vì ba cái, làm sao mà có thể ổn thỏa cho hết được.”
Khoản thu năm ngoái kỳ thực là từ tài sản của Mộ thị. Họ Mộ trăm năm danh gia vọng tộc, có ruộng lúa phì nhiêu, đất đai bạt ngàn, nhà cửa, vàng bạc, phải nói là đếm không xuể, đổi ra bạc cũng được hơn hai trăm bốn mươi vạn lượng, khiến cho triều đình cả năm qua cũng được sung túc.
Dự Thân Vương cảm nhận khí thu mát mẻ từ vạt áo, bên ngoài mưa vẫn rào rào, không khỏi nhăn mày.
Từ cửa ải cũng nhận được tin báo không hay. Tướng Bùi Tĩnh phòng giữ Hạc châu thống lĩnh viện binh, đã kịch liệt giao chiến cùng quân Kỷ Nhĩ Mậu dưới chân núi Mẫn Nguyệt đã mấy ngày, Bùi Tĩnh thì thua chạy te tua, hai vạn nhân mã mà tổn thất chỉ còn lại khoảng năm nghìn, không những không giải vây được cho ải Định Lan, ngược lại chính mình còn bị vây bên bờ Hắc Thủy.
Thị lang của bộ Binh lo lắng bồn chồn, nói:
“Bùi Tĩnh đã trấn giữ biên ải hơn mười năm, cũng đã giao tranh cùng Kỷ Nhĩ Mậu bao năm, không ngờ lần này lại lâm vào tình cảnh như thế. Tay chủ soái bên Kỷ Nhĩ Mậu, quả thực là không thể khinh thường.”
Tướng soái cầm đầu cuộc xuất chinh phía nam này của Kỷ Nhĩ Mậu, trước giờ còn chưa có danh vị gì, thế nhưng lại được người của Kỷ Nhĩ Mậu tung hô là “Thản nhã trạch kim”, tức là “Thần ánh sáng”. Vóc dáng cũng chẳng hề cao lớn dũng mãnh, thậm chí còn gầy yếu nhỏ thó hơn cả người thường. Tuy nhiên, chưa có ai từng được thấy bộ mặt thật của người này, lúc ra trận luôn mang mặt nạ bằng vàng, điêu khắc trên đó rất dữ tợn, cưỡi tuấn mã, nắm thương dài, toàn thân giáp sắt sáng ngời, phản chiếu ánh mặt trời như ngày chính ngọ, quả thực ẩn hiện khí chất thần linh oai nghiêm.
Cách dùng binh của hắn cực kỳ xuất quỷ nhập thần, mấy tháng nay giao chiến cùng Thiên triều, vậy mà vẫn bách chiến bách thắng, chỉ trong vòng một khoảng thời gian ngắn đã khiến cho ba quân nơi biên ải kiêng sợ.
Thám tử được phái đi thăm dò đã trở về, báo rằng người này chính là con tư sinh của Đại hãn Kỷ Nhĩ Mậu Tra Kha Nhĩ với nữ phù thủy Oman, năm nay mới mười sáu, ngoại hình xinh đẹp như con gái, cho nên mới phải mang mặt nạ vàng mà xuất trận, hòng trợ oai.
Lời đồn đãi cũng không kém phần ly kỳ, rằng người này thực ra cũng không phải là con riêng của Tra Khả Nhĩ, mà thực sự là một vị công chúa nhỏ tuổi nhất của đại hãn, vốn thuở nhỏ đã sùng võ hiếu chiến, tinh thông binh phá